Hóa trị và phản ứng phụ

Mặc dù hóa trị được dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư, chúng cũng có thể làm tổn hại những tế bào bình thường. Những tế bào dễ bị tổn hại là những tế bào có khả năng phân chia nhanh chóng:

– Các tế bào máu/tủy xương

– Những tế bào của nang tóc

– Những tế bào lót niêm mạc ống tiêu hóa

– Những tế bào lót niêm mạc ống sinh dục

Tổn thương những tế bào trên có thể gây ra nhiều tác dụng phụ. Mỗi thuốc khác nhau có những tác dụng phụ khác nhau, và chúng cũng thay đổi tùy theo liều lượng, đường dùng và cách ảnh hưởng của thuốc lên từng cá nhân.

Ức chế tủy xương

Tủy xương là một lớp chất lỏng đặc ở bên trong một số xương có chức năng sản xuất bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Một trong những tác dụng phụ thường gặp nhất của hóa trị là gây tổn thương tủy xương.

Các tế bào được sản xuất liên tục ở tủy xương nơi chúng lớn lên nhanh chóng. Do đó chúng sẽ nhạy cảm với những tác dụng của thuốc hóa trị. Cho đến khi các tế bào tủy xương hồi phục khỏi những tổn thương gây ra bởi hóa trị, bệnh nhân sẽ có thể có số lượng hồng cầu, bạch cầu và/hoặc tiểu cầu thấp. Hiện tượng này được gọi là sự ức chế tủy xương.

Khi đang hóa trị, bạn sẽ được xét nghiệm máu thường xuyên, thậm chí là mỗi ngày khi cần thiết để có thể đếm được số lượng những tế bào trên. Xét nghiệm này thường được gọi là kiểm tra công thức máu. Nếu bạn đang được điều trị bệnh bạch cầu, có thể sẽ phải lấy mẫu tủy xương định kỳ để kiểm tra những tế bào tạo máu ở tủy xương sau này phát triển thành bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu.

Hiện tượng giảm số lượng tế bào máu sẽ không xảy ra ngay khi bắt đầu hóa trị do thuốc không tiêu diệt những tế bào đã ở trong máu (vì chúng không phân chia nhanh chóng). Thay vào đó, thuốc có tác động lên những tế bào máu mới được hình thành bên trong tủy xương.

Khi những tế bào máu cũ bình thường chết đi, chúng được thay thế liên tục bởi tủy xương. Khi đó chúng không được thay thế bởi những tế bào mới như lúc bình thường, lúc này số lượng các tế bào máu bắt đầu giảm. Loại và liều thuốc hóa trị sẽ ảnh hưởng đến mức độ giảm thấp của các tế bào máu và thời gian kéo dài của hiện tượng này.

Mỗi loại tế bào máu có tuổi thọ khác nhau:

Bạch cầu có nhiều loại nên cũng có tuổi thọ rất thay đổi. Bạch cầu đa nhân trung tính là loại bạch cầu đóng vai trò quan trọng trong chiến đấu chống lại nhiễm trùng sống trung bình khoảng 6 giờ.

Tiểu cầu sống trung bình 10 ngày

Hồng cầu sống trung bình 120 ngày

Số lượng thấp nhất mà các tế bào máu có thể giảm xuống sau hóa trị được gọi là giới hạn dưới. Giới hạn dưới của mỗi loại tế bào máu xảy ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng thường bạch cầu và tiểu cầu sẽ đạt đến giới hạn dưới trong vòng từ 7 đến 14 ngày. Do hồng cầu sống lâu hơn nên thường chúng phải mất đến vài tuần mới đạt được đến giới hạn dưới. Trong vòng 3 hoặc 4 tuần, số lượng tế bào máu cải thiện và bắt đầu đạt đến giá trị bình thường.

Biết được những chức năng bình thường của 3 loại tế bào máu này sẽ giúp bạn hiểu được những hậu quả có thể xảy ra khi số lượng của chúng giảm xuống.

Bạch cầu giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng

Tiểu cầu giúp ngăn chảy máu bằng cách hình thành nút chặn để bịt những mạch máu bị tổn thương lại.

Hồng cầu mang oxy đến các tế bào trên khắp cơ thể để chúng có thể biến một số chất dinh dưỡng thành năng lượng

Lượng bạch cầu: Máu bình thường có 4.000 đến 10.000 bạch cầu trong 1 mm khối. Bạch cầu được chia ra làm 2 nhóm chính dựa vào hình dạng xuất hiện của chúng dưới kính hiển vi.

– Bạch cầu hạt: có chứa các hạt nhỏ li ti bên trong bào tương. Nhóm này gồm 3 loại: bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa acid và bạch cầu ưa bazơ.

– Bạch cầu không hạt: không có chứa các hạt bên trong bào tương. Nhóm này gồm 3 loại: lympho, mono và đại thực bào

Các bạch cầu hạt, đặc biệt là bạch cầu trung tính, đóng vai trò quan trọng trong sự phòng vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng và là loại bạch cầu có số lượng nhiều nhất. Giảm bạch cầu trung tính là tác dụng phụ thường gặp nhất đặt bệnh nhân ung thư vào nguy cơ nhiễm trùng. Để xác định khả năng bị nhiễm trùng của một người, các bác sĩ sẽ nhìn vào số lượng bạch cầu trung tính trong máu được gọi là số lượng tuyệt đối của bạch cầu trung tính. Giá trị bình thường của bạch cầu trung tính thường nằm trong khoảng từ 2.500 đến 6.000 tế bào mỗi mm khối. Nếu số lượng này càng giảm thì bệnh nhân càng giảm khả năng chống lại nhiễm trùng. Một người được xem là giảm bạch cầu trung tính khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối giảm bằng hoặc thấp hơn 1.000. Nếu số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối giảm xuống thấp hơn 500, bệnh nhân được xem là giảm bạch cầu trung tính nặng. Bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính sẽ có nguy cơ bị nhiễm trùng cao. Nhiễm trùng ở những bệnh nhân này rất nghiêm trọng và có thể nhanh chóng đe dọa tính mạng. Các bác sĩ sẽ theo dõi sát số lượng bạch cầu trong khi hóa trị.

Có số lượng bạch cầu hoặc bạch cầu trung tính thấp không có nghĩa là bạn bị nhiễm trùng, tuy nhiên bạn cần phải theo dõi những dấu hiệu và triệu chứng sau:

Sốt

Đau họng

Ho hoặc khó thở mới xuất hiện

Nghẹt mũi

Tiểu rát

Run vẫy

Đỏ, sưng, đau và nóng ở vị trí tổn thương hoặc ở vị trí truyền tĩnh mạch, đặt CVC hoặc đặt catheter.

Sốt là một dấu hiệu rất quan trọng và cũng có thể là dấu hiệu nhiễm trùng xuất hiện đầu tiên. Thông thường bạn sẽ được hướng dẫn gọi bác sĩ hoặc y tế nếu bị sốt từ 38 độ trở lên hoặc nếu bạn có những dấu hiệu hay triệu chứng khác của nhiễm trùng (đã được liệt kê ở trên).

Các bác sĩ có thể sử dụng những biện pháp để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng cho bạn. Bạn sẽ được khuyên nên tránh xa những trẻ nhỏ và những người đang bị bệnh. Khi số lượng bạch cầu xuống thấp, các bác sĩ thường cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh để phòng ngừa. Những thuốc chống nhiễm trùng này có thể được cho qua đường tĩnh mạch hoặc qua đường miệng.

Do nguy cơ nhiễm trùng, những đợt hóa trị kế tiếp có thể cần phải hoãn lại nếu như số lượng bạch cầu xuống quá thấp.

Ở một số trường hợp, các bác sĩ có thể kê toa các yếu tố tăng trưởng để giữ số lượng bạch cầu không giảm xuống quá thấp để có thể thực hiện hóa trị được theo lịch (Như đã bàn phía trên, thời điểm của chu kỳ hóa trị rất quan trọng để có thể tiêu diệt được một số lượng lớn nhất các tế bào ung thư). Cơ thể bình thường sản xuất một số yếu tố tăng trưởng để thúc đẩy tủy xương tạo ra nhiều loại tế bào máu. Nhưng với nồng độ bình thường của các yếu tố này không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể trong giai đoạn hóa trị. Các nhà nghiên cứu đã biết được cách tạo ra những chất này trong phòng thí nghiệm và hiện nay trở thành những thuốc có thể sử dụng được giúp cơ thể giữ được số lượng tế bào máu ở mức bình thường.

Các yếu tố tăng trưởng kích thích sản xuất bạch cầu còn có tên là GM-CSF (granulocyte-macrophage colony-stimulating factor), cũng có thể được gọi là sargramostim hoặc Leukine và G-CSF (granulocyte colony-stimulating factor) còn được gọi là filgrastim hoặc Neupogen. Những loại thuốc này được sử dụng mỗi ngày thường là bắt đầu vào ngày sau khi hóa trị. Chúng được cho trong vòng trên 2 tuần. Dạng mới có tác dụng kéo dài của G-CSF (pegfilgrastim hoặc Neulasta) hiện nay đã có thể sử dụng được và chỉ cần dùng 1 lần cho mỗi chu kỳ hóa trị, thường là 24 giờ sau khi kết thúc hóa trị.

Những loại thuốc này giúp  tủy xương phục hồi nhanh chóng hơn và giảm nguy cơ bị nhiễm trùng nặng. Chúng thường được tiêm dưới da. Các y tá có thể tiêm cho bạn nếu đang ở bệnh viện hoặc ở phòng khám tuy nhiên bạn hoặc người thân có thể học cách tiêm tại nhà.

 Giảm hồng cầu: tình trạng không đủ số lượng hồng cầu được gọi là thiếu máu. Các bác sĩ sẽ dùng 2 đơn vị đo để xác định xem bạn có đủ số lượng hồng cầu hay không.

– Thành phần màu đó trong hồng cầu mang oxy được gọi là hemoglobin. Nếu không đủ số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin máu sẽ thấp hơn giới hạn bình thường trong khoảng từ 12 đến 16 gram mỗi decilit (g/dL) ở phụ nữ hoặc 14 đến 18g/dL ở nam giới

– Hematocrit là tỷ lệ phần trăm của tổng thể tích máu có chứa hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 37 đến 52%. Bình thường giá trị này ở nam có thể cao hơn nữ.

Nếu bị thiếu máu bạn có thể có những triệu chứng sau:

Mệt mỏi

Da hoặc niêm mạc (ở miệng và nướu răng) xanh xao hoặc tái nhợt đi.

Chóng mặt

Nhức đầu

Kích thích

Khó thở, đặc biệt là những lúc gắng sức

Hạ huyết áp

Tăng nhịp tim hoặc nhịp thở (hoặc cả hai)

Thiếu máu do hóa trị thường chỉ là tạm thời. Nhưng mất máu do phẫu thuật hoặc do ung thư (thường xảy ra ở ung thư đại trực tràng) có thể làm tình trạng thiếu máu nặng nề thêm.

Nếu triệu chứng trở nên nặng nề, có thể cần phải truyền máu để điều chỉnh tạm thời số lượng hồng cầu cho đến khi tủy xương đủ khỏe mạnh để thay thế những tế bào hồng cầu cũ bị chết đi. Do truyền máu có nhiều nguy cơ nên bác sĩ chỉ dùng cách này trong những trường hợp có dấu hiệu và triệu chứng nặng, chẳng hạn như khó thở nặng nề và/hoặc số lượng hồng cầu rất thấp (thường thấp hơn 8g/dL). Có những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến quyết định này. Chẳng hạn như những bệnh nhân bị bệnh tim, phổi nhạy cảm hơn với tình trạng thiếu máu có thể sẽ có những triệu chứng nặng ngay cả khi nồng độ hemoglobin có thể cao hơn 8g/dL.

Một lựa chọn điều trị thiếu máu do hóa trị là thuốc erythropoietin (hay còn được gọi là EPO, epoetin, Procrit, hoặc Epogen). Loại thuốc này chỉ dùng cho những bệnh nhân mà việc điều trị của họ không nhằm mục đích chữa khỏi ung thư. Đây là một phiên bản nhân tạo của một yếu tố tăng trưởng tự nhiên của cơ thể có chức năng thúc đẩy tủy xương tạo ra nhiều hồng cầu hơn. Chúng có thể làm giảm triệu chứng thiếu máu và làm giảm nhu cầu truyền máu của bệnh nhân, nhưng thường cần phải ít nhất 2 tuần lễ để thuốc bắt đầu có tác dụng. Epotin thường được cho một lần mỗi tuần bằng cách tiêm dưới da cho đến khi nồng độ hemoglobin đạt đến mức có thể chấp nhận được (thường nằm trong khoảng từ 10 đến 12 g/dL). Một dạng mới, có tác dụng kéo dài hơn là darbepoetin (Aranesp) thường được tiêm mỗi tuần nhưng có thể mỗi 2 đến 3 tuần ở một số bệnh nhân.

Do những yếu tố tăng trưởng này có thể làm gia tăng nguy cơ bị huyết khối nên bệnh nhân cần phải được theo dõi sát công thức máu mỗi khi tái khám. Nếu bạn cảm thấy triệu chứng khó thở nặng nề hơn, đau hoặc sưng chân, chóng mặt hoặc hoa mắt, tăng huyết áp, mệt mỏi hoặc có huyết khối ở những thiết bị tiếp xúc với mạch máu, hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Trước đây, những tác nhân kích thích tăng trưởng hồng cầu thường được dùng để giúp bệnh nhân tránh phải truyền máu. Hiện nay, những nghiên cứu đã nghi ngờ những loại thuốc này có thể làm một số loại ung thư phát triển hơn. Thậm chí chúng còn có thể dẫn đến tử vong ở một số bệnh nhân. Những tác dụng phụ này được phát hiện ở những nghiên cứu dùng loại thuốc này để nâng nồng độ hemoglobin lên đến mức bình thường (cao hơn 12). Những nghiên cứu trước đây không nhằm mục đích nâng nồng độ hemoglobin lên cao đến mức đó. Do đó, FDA đã cảnh báo không dùng loại thuốc này nhằm mục đích nâng hemoglobin đến nồng độ cao. FDA cũng quyết định rằng những người được hóa trị với hy vọng chữa khỏi ung thư không được sử dụng loại thuốc này.

 Giảm tiểu cầu: Giới hạn bình thường của số lượng tiểu cầu là từ 150.000 đến 450.000 tế bào mỗi millimet khối, tuy nhiên chúng có thể thay đổi đôi chút tùy thuộc vào phòng thí nghiệm. Nếu bị giảm tiểu cầu, bạn có thể:

Dễ bị thâm tím

Chảy máu kéo dài hơn bình thường sau khi bị một vết cắt hoặc vết xước nhỏ.

Bị chảy máu nướu răng hoặc chảy máu mũi

Xuất hiện những đốm petechiae (những chấm nhỏ màu đỏ hồng trên da)

Nhức đầu

Có máu trong phân hoặc nước tiểu

Bị chảy máu bên trong nội tạng nghiêm trọng nếu số lượng tiểu cầu xuống quá thấp

Mặc dù có thể tình trạng giảm tiểu cầu do hóa trị chỉ là tạm thời nhưng chúng có thể gây mất máu nặng nề. Điều này có thể dẫn đến tổn thương các cơ quan nội tạng.

Đôi khi tình trạng giảm tiểu cầu còn khiến cho bệnh nhân phải hoãn lại những cuộc phẫu thuật cần thiết do bác sĩ lo lắng về tình trạng mất máu trong lúc phẫu thuật.

Nếu số lượng tiểu cầu xuống quá thấp (dưới 10.000) hoặc nếu bệnh nhân có số lượng tế bào máu tương đối thấp và lại bị chảy máu hoặc thâm tím một cách quá dễ dàng, có thể cần phải truyền tiểu cầu cho bệnh nhân. Tiểu cầu được truyền vào cơ thể chỉ tồn tại trong vòng vài ngày và thường cần phải tiếp tục truyền lập lại. Một số bệnh nhân phải truyền tiểu cầu quá nhiều lần có thể hình thành phản ứng miễn dịch tiêu diệt tiểu cầu truyền vào cơ thể.

Một yếu tố tăng trưởng tiểu cầu có tên là oprelvekin (Neumega®) là một loại thuốc đôi khi được cho những bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng. Nó có thể làm giảm nhu cầu phải truyền tiểu cầu và giảm nguy cơ chảy máu. Thuốc được tiêm dưới da mỗi ngày.

Buồn nôn và nôn

Nhiều bệnh nhân hóa trị lo lắng về triệu chứng này hơn những tác dụng phụ khác. Có những loại thuốc mới có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị triệu chứng buồn nôn và nôn này, làm cho chúng ít gặp hơn trước đây nhưng vẫn là một tác dụng phụ có thể xảy ra của quá trình hóa trị. Thuốc hóa trị gây buồn nôn và nôn do nhiều lý do. Một trong những lý do đó là chúng gây kích thích niêm mạc dạ dày và tá tràng (phần đầu tiên của ruột non) làm kích thích một số dây thần kinh kích hoạt trung tâm nôn và vùng khởi động thụ thể hóa học (CTZ – chemoreceptor trigger zone) ở não dẫn đến nôn. Những cách khác khiến những vùng này có thể bị kích hoạt là sự tắc nghẽn (tắc ruột), chậm trễ làm trống dạ dày, hoặc viêm – là những tác dụng có thể xảy ra của thuốc.

Buồn nôn là một cảm giác khó chịu giống như sóng nhu động ở dạ dày và phía sau họng. Nó có thể kết hợp với những triệu chứng như vã mồ hôi, choáng váng, chóng mặt, tăng tiết nước bọt và yếu ớt. Nó có thể dẫn đến ọe, nôn, hoặc cả hai.

Nôn là một quá trình được kiểm soát bởi trung tâm nôn làm cho những chất chứa bên trong dạ dày bị tống ra khỏi miệng. Nôn có thể xuất hiện ngay sau khi hóa trị hoặc sau đó. Nó có thể xuất hiện trong vòng vài phút đến vài giờ sau hóa trị và được gọi là nôn cấp tính. Nếu nó xuất hiện hoặc tiếp tục trong vòng 24 giờ hoặc hơn sau hóa trị, nó được gọi là nôn trễ. Loại này đôi khi có thể kéo dài trong vài ngày.

Tình trạng nôn có thể dự báo trước xảy ra khi bạn đã có kinh nghiệm về triệu chứng này trong quá khứ và không được điều trị. Đây là tình trạng đáp ứng có thể bị kích thích bởi hình ảnh, tiếng động hoặc mùi. Do đó, bạn có thể bị buồn nôn và nôn khi gặp những tình huống tương tự (chẳng hạn như trước khi bước vào đợt hóa trị kế tiếp). Có một số cách điều trị có thể có ích sau khi triệu chứng xảy ra nhưng phòng ngừa vẫn là tốt nhất.

Mặc dù không thể tiên đoán được thời điểm khởi phát, độ nặng hoặc độ dài của triệu chứng ở bất kỳ người nào, nhưng có một số thuốc hóa trị dễ gây buồn nôn và nôn hơn những loại khác, chẳng hạn như:

cisplatin

dacarbazine

mechlorethamine

melphalan

daunorubicin

cytarabine (liều cao)

streptozocin

carmustine

etoposide (liều cao)

cyclophosphamide

procarbazine

lomustine

dactinomycin

Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến số lượng và độ nặng của triệu chứng bao gồm:

Từng bị say sóng, say tàu xe trước đây

Đã từng bị buồn nôn và nôn nặng nề trước đây

Mệt mỏi

Lo lắng trong quá trình điều trị

Uống rượu nặng (hiện tại hoặc trước đây)

Là phụ nữ ở độ tuổi còn hành kinh (có nguy cơ cao bị buồn nôn và nôn nặng và kéo dài).

Chìa khóa để kiểm soát hiệu quả triệu chứng này là ngăn ngừa trước khi nó xảy ra nếu có thể. Đó là lý do vì sau những thuốc chống nôn ói là được cho sử dụng trước khi bắt đầu hóa trị. Nhiều loại thuốc được sử dụng một mình hoặc kết hợp để ngăn ngừa hoặc làm giảm triệu chứng, bao gồm:

lorazepam (Ativan®)

prochlorperazine (Compazine®)

promethazine (Phenergan®)

metoclopramide (Reglan®)

corticosteroids chẳng hạn như dexamethasone (Decadron®)

ondansetron (Zofran®)

granisetron (Kytril®)

dolasetron (Anzemet®)

palonosetron (Aloxi®)

aprepitant (Emend®)

Ngoài ra cũng có những cách không dùng thuốc để điều trị nôn chẳng hạn như:

Uống trà gừng

Những bài tập thư giãn

Nhạc êm dịu

Những phương pháp không dùng thuốc này có thể đặc biệt hiệu quả ở những bệnh nhân bị nôn đã được dự báo trước. Tốt nhất nên sử dụng chúng song song với những thuốc chống buồn nôn

 Rụng tóc

Một số loại thuốc hóa trị ảnh hưởng đến những tế bào phát triển nhanh chóng của các nang tóc. Tóc sẽ trở nên dễ gãy và gãy lìa khỏi bề mặt da đầu hoặc chỉ đơn giản là rụng khỏi nang tóc. Rụng tóc không phải là một biến chứng đe dọa mạng sống nhưng có thể gây ra những bất ổn về tâm lý và xã hội ở nhiều người. Bệnh nhân và người thân nên được chuẩn bị tinh thần cho điều này.

Một số điều cơ bản về rụng tóc:

Tóc có rụng hay không phụ thuộc vào loại thuốc hóa trị được sử dụng, liều lượng và thời gian điều trị

Triệu chứng có thể thay đổi tùy theo cá nhân. Một số người có thể bị mất tóc hoàn toàn trong khi những người khác chỉ cảm thấy bị giảm độ dày của tóc. Rụng lông mày, lông mi, lông ở bộ phân sinh dục và ở cơ thể thường ít nặng nề hơn do chúng phát triển ít chủ động hơn ở đầu.

Tóc có thể sẽ bắt đầu rụng từ 2 đến 3 tuần sau khi bắt đầu điều trị

Rụng tóc do hóa trị hầu như luôn chỉ là tình trạng nhất thời. Khi tóc mọc lại, màu sắc và bố cục của chúng có thể khác đi. Ở một số người, tóc mọc lại sẽ đen hơn và xoăn hơn. Tóc có thể bắt đầu mọc lại vào lúc gần cuối giai đoạn điều trị hoặc sau khi điều trị kết thúc. Tóc thường mềm và giống như tơ lúc ban đầu và có khuynh hướng cải thiện trong vòng vài tháng kế tiếp. Sự thay đổi màu tóc có thể là vĩnh viễn tuy nhiên đôi lúc theo thời gian chúng có thể gần giống so với màu tóc trước khi điều trị.

Không giống với những tác dụng phụ khác của hóa trị, rụng tóc không bao giờ đe dọa mạng sống nhưng chúng có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống. Rụng tóc có thể gây stress, mất tự tin và phản ứng buồn bã.

Mặc dù không có nghiên cứu nào cho thấy thuốc nhuộm tóc có thể gây tổn hại thêm cho tóc sau khi hóa trị nhưng hầu hết các bác sĩ khuyên bệnh nhân không nên nhuộm tóc cho đến khi kết cấu của tóc trở về bình thường, có thể phải mất đến 6 tháng sa khi điều trị. Một số phụ nữ có thể phát hiện ra rằng nhuộm tóc quá sớm sau điều trị sẽ cho kết quả không đủ thỏa mãn.

Những hóa chất làm xoăn hoặc thẳng tóc có thể cho những tác dụng không mong muốn trên tóc và có thể gây kích ứng da đầu cho đến khi nó phục hồi hoàn toàn.

Phụ nữ bị rụng lông mi có thể kẻ mi mắt để trong có vẻ giống như lông mi thật. Lông mi giả không có tác dụng khi bạn không có lông mi do không có lông mi thật để che chân lông mi giả. Ngoài ra cần phải có keo để dán lông mi giả và chất keo này có thể gây kích ứng hoặc dị ứng ở một số người.

 Chán ăn và thay đổi cân nặng

Hầu hết các loại thuốc hóa trị có thể gây ra chán ăn ở một mức độ nào đó, giảm hoặc mất hoàn toàn khẩu vị. Chán ăn, cũng như sụt cân, có thể là hậu quả trực tiếp của ung thư trên hoạt động chuyển hóa của cơ thể.

Triệu chứng chán ăn có thể nhẹ. Nếu nặng, nó có thể dẫn đến suy nhược, một dạng thiếu dinh dưỡng kèm theo mất cơ. Dinh dưỡng tốt giúp cơ thể khỏe mạnh để chiến đấu chống lại căn bệnh và nhiễm trùng và để đương đầu với các biện pháp điều trị ung thư.

Giảm khẩu vị thường là nhất thời và có thể cải thiện khi kết thúc hóa trị. Có thể cần đến vài tuần sau khi hóa trị kết thúc để khẩu vị có thể phục hồi. Một số loại thuốc hóa trị có thể gây mất khẩu vị nặng nề hơn những loại khác.

Hãy thông báo với bác sĩ hoặc y tá nếu bạn cảm thấy chán ăn hoặc suy nhược vì có thể bạn sẽ được kê toa một số loại thuốc hữu ích.

Sụt cân có thể là hậu quả của tình trạng chán ăn, nôn ói, tiêu chảy, tác dụng phụ của thuốc. Nhưng đôi khi bệnh nhân có thể tăng cân sau điều trị. Hiện tượng này có thể là do chế độ hóa trị có bao gồm thuốc corticoid, bệnh nhân phải bất động, mất cân bằng điện giải và ứ đọng dịch.

Cân nặng của bạn sẽ được theo dõi trong quá trình điều trị ung thư. Ngoài ra bạn cũng có thể tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng để giúp bạn học cách giữ vững cân nặng thích hợp cho cơ thể.

 Thay đổi vị giác

Những thuốc điều trị ung thư và chính bản thân ung thư có thể gây thay đổi mùi vị của một số loại thức ăn. Sự thay đổi vị giác có thể dẫn đến chán ăn, suy sinh dưỡng và thay đổi cân nặng. Đối với triệu chứng thay đổi vị giác do hóa trị, bạn nên chú ý những dấu hiệu sau:

Ghét hoặc tăng thèm muốn những thức ăn ngọt

Không thích những thức ăn có vị đắng

Ghét cà chua hoặc những thức ăn làm từ cà chua

Ghét thịt bò hoặc thịt heo

Liên tục cảm thấy có vi kim loại hoặc vị thuốc bên trong miệng

Những thay đổi này xảy ra là do các thuốc dùng hóa trị có thể thay đổi những tế bào thụ thể vị giác bên trong miệng có chức năng thông báo cho bạn biết bạn đang nếm vị nào. Thiếu dinh dưỡng, vệ sinh miệng, nhiễm trùng xoang hoặc miệng, răng giả và mùi khó chịu có thể ảnh hưởng đến khả năng nếm của bệnh nhân. Thay đổi vị  giác và khứu giác có thể vẫn tiếp diễn cùng lúc với thời gian hóa trị, thậm chí còn kéo dài lâu hơn. Khoảng 6, 7 tuần sau khi hóa trị kết thục, vị giác và khứu giác thường (nhưng không phải là luôn luôn) sẽ trở lại bình thường.

 Loét miệng hoặc họng

Một số thuốc hóa trị gây loét miệng hoặc họng. Thuốc tác dụng lên những tế bào phân chia nhanh chóng phủ ở những khu vực này làm chúng không thể thay thế đủ các tế bào bình thường bị mất đi.

Viêm miệng chỉ tình trạng viêm và loét bên trong miệng có thể do hóa trị. Những thay đổi tương tự xuất hiện ở họng được gọi là viêm họng và ở thực quản (ống nối từ họng xuống đến dạ dày) được gọi là viêm thực quản. Viêm niêm mạc chỉ tình trạng viêm của lớp niêm mạc lát toàn bộ ống tiêu hóa từ miệng xuống đển trực tràng và âm đạo.

Dấu hiệu đầu tiên của loét miệng xảy ra khi bề mặt miệng trở nên tái và khô. Sau đó, miệng, nướu răng và họng có thể cảm thấy đau rồi sau đó là đỏ và viêm. Lưỡi như được bọc lại và sưng lên dẫn đến khó khăn trong các động tác nuốt, ăn hay nói chuyện. Viêm miệng, viêm họng và viêm thực quản có thể dẫn đến chảy máu, loét và nhiễm trùng.

Loét ở miệng, họng và thực quản thường chỉ là nhất thời. Chúng thường xuất hiện từ 5 đến 14 ngày sau khi hóa trị. Viêm miệng thường tự hồi phục sau 2 đến 3 tuần và lành hoàn toàn khi kết thúc hóa trị.

 Táo bón

Táo bón là tình trạng đi cầu không thường xuyên thường cảm thấy khó chịu cùng với phân khô, cứng. Nếu bị táo bón, bạn cũng nên chú ý đến các triệu chứng như căng bụng, đầy hơi, co cứng hoặc đau. Táo bón xuất hiện ở hơn phân nửa bệnh nhân bị ung thư và khoảng 3/4 trong số đó bị ung thư giai đoạn nặng. Chúng có thể dẫn đến buồn nôn và giảm khẩu vị.

Những yếu tố nguy cơ của táo bón bao gồm:

Dùng những thuốc giảm đau có tính chất gây nghiện

Thiếu vận động

Ăn ít chất xơ và giảm lượng thức ăn đi vào cơ thể

Giảm uống nước và mất nước

Nghỉ ngơi tại giường

Trầm cảm

Dùng một loại thuốc hóa trị nào đó (chẳng hạn như vincristine và vinblastine)

Nếu bệnh nhân bị táo bón, các bác sĩ sẽ tìm cách xác định nguyên nhân và thực hiện những biện pháp cần thiết để điều trị. Chú ý đến lịch đi cầu của mình, cố gắng hoạt động, ăn những thức ăn có chất xơ và uống ít nhất 3 lít nước mỗi ngày trừ phi bác sĩ khuyên bạn nên làm khác đi. Hãy báo với bác sĩ nếu đã 3 ngày bạn chưa đi cầu.

 Tiêu chảy

Tiêu chảy là gia tăng thể tích phân lỏng hoặc nước nhiều lẫn mỗi ngày có thể có hoặc không có khó chịu. Cùng với tiêu chảy, bạn có thể bị đầy hơn, quặn bụng và trướng bụng. Tiêu chảy xảy ra ở khoảng 3/4 bệnh nhân hóa trị do những tổn thương của các tế bào có khả năng phân chia nhanh chóng ở ống tiêu hóa.

Những yếu  tố ảnh hưởng đến triệu chứng tiêu chảy khi hóa trị là:

– Dùng thuốc gây tiêu chảy (chẳng hạn như irinotecan, 5-fluorouracil, methotrexate, docetaxel, doxorubicin, và dactinomycin)

– Liều dùng

– Thời gian điều trị

– Bị u dạ dày

– Vi khuẩn hoặc virus đường ruột

– Những loại thuốc như kháng sinh hoặc kháng acid

– Những thực phẩm dinh dưỡng hỗ trợ

– Vừa hóa trị lẫn xạ trị

–  Dị ứng thức ăn hoặc không dung nạp lactose (vd như không thể uống sữa)

– Thay đổi lối sống

– Stress và lo lắng

Tiêu chảy có thể trở nên trầm trọng và đe dọa mạng sống nếu nó gây mất nước, suy dinh dưỡng, mất cân bằng điện giải. Do đó nên báo lại với bác sĩ hoặc y tá nếu như bạn bị tiêu chảy để có thể được điều trị nhanh chóng. Ghi lại số lần tiêu chảy, lượng và tính chất phân rồi cung cấp thông tin này cho bác sĩ.

Tiêu chảy là tác dụng phụ thường gặp của thuốc irinotecan (CPT-11) và cần phải điều trị nhanh chóng để tránh mất nước. Nếu bạn đang sử dụng irinotecan, bạn cần phải theo những hướng dẫn của bác sĩ để uống thuốc ngăn tiêu chảy ngay lập tức.

 Mệt mỏi

Mệt mỏi là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của ung thư và hóa trị. Với triệu chứng này, bạn có thể cảm thấy:

Kiệt sức

Yếu ớt

Mất năng lượng

Giảm khả năng hoạt động thể lực cũng như trí tuệ

Khó khăn trong suy nghĩ và tập trung

Hay quên

Triệu chứng mệt mỏi mà những bệnh nhân ung thư cảm thấy rất khác so với sự mệt mỏi của cuộc sống thường ngày. Nó không liên quan đến hoạt động và không khỏi khi nghỉ ngơi hoặc ngủ. Mệt mỏi có thể kéo dài và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cùng với chất lượng sống của bạn. Hãy thông báo triệu chứng này với bác sĩ để có thể điều trị những nguyên nhân thực thể (thiếu máu) và giúp bạn đối phó được với chúng.

 Tổn thương tim

Một số loại thuốc có thể gây tổn thương tim, thường gặp nhất là anthracycline, chẳng hạn như daunorubicin và doxorubicin, nhưng những loại thuốc khác cũng có thể gây tổn thương tim. Tác dụng phụ này xảy ra trong khoảng 1/10 người dùng những loại thuốc này và thường bao gồm tổn thương cơ tim.

Nếu tim bị tổn thương bởi thuốc hóa trị, nó không thể bơm máu đi khắp cơ thể như từng làm trước khi điều trị nữa. Nó có thể dẫn đến tích tụ dịch và những vấn đề khác như là suy tim xung huyết.

Bạn có thể cảm thấy những triệu chứng sau:

Phù hoặc sưng ở bàn tay và bàn chân

Khó thở, nặng hơn khi tập thể thao hoặc nằm đầu bằng

Chóng mặt

Tim đập không đều

Ho khan

Nếu bạn đã từng được xạ trị ở vùng giữa ngực trước đây, đang có vấn đề tim mạch, tăng huyết áp không kiểm soát được, hoặc nếu bạn đang hút thuốc lá, bạn sẽ có nguy cơ cao bị tổn thương tim.

Thông thường, trước khi bắt đầu hóa trị bằng những loại thuốc có thể gây tổn thương tim, các bác sĩ có thể sẽ kiểm tra chức năng tim cho bệnh nhân để chắc chắn không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra. Chức năng tim cũng sẽ được kiểm tra trong khi điều trị để bảo đảm không có thay đổi gì có thể xảy ra. Những biện pháp khảo sát như điện tâm đồ (ECG – Electrocardiogram), siêu âm tim, hoặc MUGA scan sẽ được thực hiên để kiểm tra xem chức năng tim có thay đổi hay không. Điện tâm đồ ghi nhận lại những tín hiệu điện của tim còn siêu âm tim là dùng sóng âm để thể hiện hình ảnh của tim. Với MUGA scan, bạn sẽ được nhận những chất nhạy sóng sau đó được scan qua tim để kiểm tra hiệu quả bơm của tim.

Nếu xuất hiện vấn đề, bệnh nhân sẽ được ngừng hóa trị để ngăn không gây tổn thương vĩnh viễn nặng hơn cho tim. Hãy thông báo với bác sĩ hoặc y tá ngay lập tức nếu bạn thấy có sự thay đổi của nhịp tim, khó thở, tăng cân hoặc ứ dịch.

 Thay đổi ở hệ thần kinh

Một số loại thuốc hóa trị có thể gây những thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp lên hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống), các dây thần kinh sọ hay các dây thần kinh ngoại biên. Các dây thần kinh sọ được nối trực tiếp đến não và đóng vai trò quan trọng trong việc cử động, cảm giác sờ chạm của đầu, mặt và cổ. Các dây thần kinh sọ cũng rất quan trọng đối với các chức năng nhìn, nghe, nếm và ngửi. Các dây thần kinh ngoại biên đi đến và xuất phát từ phần còn lại của cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong cử động, cảm giác sờ chạm và những hoạt động bình thường của một số cơ quan nội tạng.

Những tác dụng phụ gây ra bởi hóa trị là do các dây thần kinh bị tổn thương có thể xuất hiện sớm khi mới bắt đầu điều trị hoặc vài năm sau đó.

Những thay đổi ở hệ thần kinh trung ương có thể gây ra những triệu chứng sau:

Cổ gượng

Nhức đầu

Nôn và buồn nôn

Ngủ lịm hoặc buồn ngủ

Sốt

Lú lẫn

Trầm cảm

Tai biến

Tổn thương các dây thần kinh sọ có thể gây ra những triệu chứng:

– Những vấn đề về thị giác (chẳng hạn như nhìn mờ hoặc nhìn đôi)

– Tăng nhạy cảm về mùi

– Nghe kém hoặc có tiếng động bên trong tai

– Khô miệng

Những thay đổi ở hệ thần kinh ngoại biên thường ảnh hưởng đến tay và chân, bao gồm:

– Tê

– Ngứa ran

– Giảm cảm giác

– Đau

Những thay đổi ở hệ thần kinh ngoại biên có thể làm bạn cảm thấy vụng về và gây khó khăn cho những hoạt động thường ngày như mở hàm, thắt nút hoặc bóp tuýp kem đánh răng.

Một số loại thuốc thường dùng nhất có thể gây tổn thương dây thần kinh ngoại biên bao gồm các thuốc ức chế phân bào (vincristine, paclitaxel, docetaxel, v.v…) và cisplatin. Các dây thần kinh có thể lành trở lại và nếu giảm liều hóa trị hoặc ngưng điều trị, các triệu chứng thường sẽ giảm hoặc biến mất. Tuy nhiên, đôi khi có những trường hợp bị tổn thương vĩnh viễn. Do đó, bạn nên thông báo bất kỳ những thay đổi nào của bạn cho các bác sĩ ngay khi cần thiết.

 Thay đổi trong suy nghĩ và trí nhớ

Những nghiên cứu cho thấy hóa trị có thể gây ảnh hưởng đến cách thức làm việc của não, thậm chí là trong vòng nhiều năm sau điều trị. Những nghiên cứu gần đây cho thấy những hóa chất được cơ thể tạo ra để đáp ứng với những ung thư xâm lấn (cytokine) có thể chịu trách nhiệm một phần cho những thay đổi trong chức năng não. Ngoài ra, cũng có những yếu tố khác như thuốc mê trong phẫu thuật, liệu pháp hormon, và những thuốc dùng để kiểm soát triệu chứng. Một số chức năng não có thể bị ảnh hưởng là sự tập trung, trí nhớ, hiểu và lý giải. Những thay đổi được phát hiện ở bệnh nhân rất mờ nhạt và khó xác nhận, nhưng bệnh nhân có thể ý thức được rất rõ những sự thay đổi trong suy nghĩ của họ.

Các nhà nghiên cứu không chắc chắn lý do chính xác vì sao não lại bị ảnh hưởng theo cách này. Họ đang nghiên cứu để tìm thêm thông tin giúp ngăn ngừa và điều trị cho bệnh nhân.

 Tổn thương phổi

Có thể có một số thuốc hóa trị như bleomycin gây tổn thương phổi vĩnh viễn. Khả năng xảy ra sẽ cao hơn nếu bạn có hút thuốc hoặc được xạ trị ở ngực cùng lúc với hóa trị. Tuổi tác cũng được xem là một yếu tố quan trong trong sự xuất hiện tổn thương ở phổi. Chẳng hạn như những bệnh nhân lớn hơn 70 tuổi sẽ có nguy cơ bị bệnh phổi do thuốc bleomycin cao gấp 3 lần.

Tổn thương phổi có thể gây ra những triệu chứng như khó thở, ho khan và có thể sốt. Nếu ngưng hóa trị đủ sớm, mô phổi có thể phục hồi trở lại. Do những thay đổi của phổi ở giai đoạn sớm không thể hiện trên phim X quang nên các bác sĩ có thể sẽ cho bạn thực hiện những xét nghiệm kiểm tra chức năng phổi cùng với khí máu động mạch. Tổn thương phổi không thể phục hồi được sau khi bị hóa sẹo. Hãy thông báo ngay với bác sĩ bất kỳ những thay đổi nào về chức năng hô hấp mà bạn cảm nhận được.

 Chức năng sinh sản và tình dục

Những vấn đề về sinh sản và tình dục có thể xuất hiện sau khi bạn được hóa trị. Loại vấn đề nào mà bạn sẽ gặp phải còn phụ thuộc vào độ tuổi của bạn khi được điều trị, liều lượng và thời gian điều trị, loại thuốc hóa trị được dùng.

Những thay đổi về tình dục xảy ra ở nam giới bao gồm:

Hầu hết nam giới được hóa trị vẫn giữ chức năng cương bình thường. Tuy nhiên có một số ít người gặp vấn đề. Khả năng cương và sự ham muốn tình dục thường giảm sau khi được hóa trị, nhưng thường sẽ phục hồi trong 1 hay 2 tuần. Một số ít thuốc hóa trị như cisplatin hoặc vincristine có thể gây tổn thương vĩnh viên một phần hệ thần kinh. Mặc dù vẫn chưa được chứng minh, những loại thuốc này có thể ảnh hưởng đến những dây thần kinh kiểm soát chức năng cương.

Hóa trị đôi lúc có thể làm giảm ham muốn tình dục và khả năng cương do làm chậm lại quá trình sản xuất testosterone. Một số loại thuốc dùng để chống nôn khi hóa trị cũng có thể làm đảo lộn cân bằng hormon ở nam giới, nhưng nồng độ hormon có thể trở về bình thường khi kết thúc điều trị.

Nhiều loại thuốc hóa trị có thể ảnh hưởng đến tinh trùng và những bộ phận sản xuất ra chúng. Một số tác dụng này có thể là vĩnh viễn. Trữ lạnh tinh trùng trước khi bắt đầu hóa trị là một lựa chọn cho những ai muốn được làm cha sau này.

Mặc dù đôi khi có thể sinh con trong khi hóa trị nhưng độc tính của một số thuốc có thể gây dị dạng bẩm sinh. Do đó, tất cả nam giới đang được hóa trị nên cẩn thận và dùng những biện pháp bảo vệ khi sinh hoạt tình dục.

Thuốc hóa trị có thể ức chế hệ miễn dịch do đó những herpes sinh dục hoặc nhiễm trùng đường sinh dục trước đây có thể bùng nổ trong giai đoạn hóa trị.

Thuốc hóa trị thường được cho qua tĩnh mạch đi vào máu. Tuy nhiên các nhà khoa học đã phát triển những cách mới đưa thuốc trực tiếp vào khối u. Chẳng hạn như đối với ung thư bàng quang, chất lỏng được đưa trực tiếp vào bàng quang qua catheter luồn vào niệu đạo. Cách điều trị này chỉ gây ảnh hưởng nhỏ đối với đời sống tình dục của nam giới. Bạn có thể cảm thấy hơi đau khi quan hệ quá sớm sau khi điều trị, nguyên nhân là do bàng quang và niệu đạo có thể vẫn đang bị kích ứng.

Những thay đổi về tình dục xảy ra ở nữ:

Nhiều loại thuốc hóa trị có thể làm tổn thương buồng trứng tạm thời hoặc vĩnh viễn giảm lượng hormon sản xuất ra. Điều này làm giảm khả năng sinh sản và ham muốn tình dục ở nữ giới. Những phụ nữ trên 30 tuổi ít có khả năng phục hồi lại được chức năng của buồng trứng do đó họ sẽ có nhiều khả năng bị mãn kinh. Những triệu chứng mãn tinh sớm bao gồm âm đạo khô và hẹp khi giao hợp, chu kỳ kinh không đều hoặc không hành kinh. Do niêm mạc âm đạo mỏng nên thường có những đốm máu mờ sau khi giao hợp.

Ngay cả khi chu kỳ kinh bị rối loạn hoặc mất khi hóa trị nhưng vẫn có khả năng có thai trong khoảng thời gian này. Độc tính của một số thuốc hóa trị có thể gây quái thai. Do đó, những phụ nữ đang trải qua hóa trị nên cẩn thận và dùng những biện pháp tránh thai khi quan hệ.

Một số thuốc hóa trị gây kích ứng toàn bộ niêm mạc trên cơ thể bao gồm cả niêm mạc âm đạo làm cho nó trở nên khô và viêm (viêm âm đạo).

Nhiễm trùng âm đạo thường gặp ở những người đang hóa trị, đặc biệt là ở những phụ nữ đang dùng corticoid hoặc những kháng sinh mạnh để ngừa nhiễm khuẩn. Các tế bào nấm là một thành phần của hệ thống làm sạch âm đạo. Tuy nhiên, nếu chúng phát triển quá nhiều, bạn sẽ cảm thấy ngứa bên trong âm đạo, chảy dịch trắng như sữa hoặc cảm giác nóng rát khi giao hợp. Đôi khi có thể phòng ngừa nhiễm nấm bằng các không mặc quần lót chật, quần lót bằng nilon. Mặc đồ rộng và quần lót bằng cotton có thể giúp cho không khí lưu thông tốt hơn. Các bác sĩ cũng có thể khuyên nên bôi kem âm đạo hoặc nhét thuốc đạn để hạn chế nấm và những vi sinh vật khác phát triển bên trong âm đạo. Hầu hết những loại thuốc này có thể mua được mà không cần toa bác sĩ nhưng cũng có một số loại dùng bằng đường uống cần phải có toa bác sĩ. Điều trị nhiễm trùng âm đạo rất quan trọng nếu như bạn đang hóa trị. Hệ miễn dịch của cơ thể không đủ mạnh do bị ảnh hưởng bởi quá trình điều trị, và bất kỳ sự nhiễm trùng nào cũng có thể trở nên trầm trọng nếu không được điều trị sớm kịp thời.

Nếu bạn bị herpes âm đạo hoặc mụn cóc sinh dục trước đây, chúng có thể bùng phát trong giai đoạn hóa trị do các thuốc hóa trị đã ức chế hệ miễn dịch của bạn.

Thuốc hóa trị thường được cho qua tĩnh mạch đi vào máu. Tuy nhiên các nhà khoa học đã phát triển những cách mới đưa thuốc trực tiếp vào khối u. Chẳng hạn như đối với ung thư bàng quang, chất lỏng được đưa trực tiếp vào bàng quang qua catheter luồn vào niệu đạo. Cách điều trị này chỉ gây ảnh hưởng nhỏ đối với đời sống tình dục của nữ giới. Bạn có thể cảm thấy hơi đau khi quan hệ quá sớm sau khi điều trị, nguyên nhân là do bàng quang và niệu đạo có thể vẫn đang bị kích ứng.

 Tổn thương gan

Gan là cơ quan có chức năng chuyển hóa hầu hết các loại thuốc hóa trị đi vào cơ thể. Tuy nhiên, một số loại thuốc có thể gây tổn thương gan bao gồm methotrexate, cytarabine, vincristine, và streptozocin. Hầu hết các tổn thương chỉ là tạm thời và gan sẽ phục hồi vài tuần sau khi hóa trị kết thúc.

Các dấu hiệu tổn thương gan bao gồm:

Vàng da hoặc vàng lòng trắng của mắt

Mệt mỏi

Đau ở phần dưới xương sườn bên phải

Sưng, phù nề ở bụng hoặc ở chân

Có thể cần phải xét nghiệm máu để kiểm tra xem gan có bị tổn thương hay không. Những bệnh nhân già hoặc đã bị viêm gan dễ bị tổn thương gan hơn những người khác.

Tổn thương thận và hệ niệu

Nhiều sản phẩm thoái hóa của thuốc hóa trị được bài tiết qua thận do đó có thể làm tổn thương thận, niệu quản và bàng quang. Nếu bạn đã từng bị bệnh về thận, bạn có thể có nguy cơ bị tổn thương thận cao.

Một số loại thuốc hóa trị như cisplatin, methotrexate liều cao, ifosfamide, và streptozocin dễ gây tổn thương thận và hệ niệu hơn những loại khác.

Những dấu hiệu có thể gặp của tổn thương thận bao gồm:

Nhức đầu

Đau ở phần dưới của lưng

Mệt mỏi

Yếu ớt

Buồn nôn

Tăng huyết áp

Thở nhanh

Thay đổi số lần đi tiểu

Thay đổi màu sắc nước tiểu

Sưng hoặc phù nề cơ thể

Xét nghiệm máu có thể giúp khảo sát chức năng thận và nên được làm thường xuyên để theo dõi những thay đổi có thể xảy ra.

 Những tác dụng phụ lâu dài

Đối với nhiều bệnh nhân ung thư, hóa trị là lựa chọn tốt nhất để kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, bạn có thể sẽ phải đối mặt với những tác hại lâu dài do hóa trị.

Ở một số trường hợp, các tác dụng phụ có thể liên quan đến những dạng thuốc hóa trị nhất định nào đó và có thể tiếp diễn sau khi hóa trị kết thúc. Những tác dụng phụ này có thể tiến triển và trở nên mạn tính hoặc xuất hiện thêm những tác dụng phụ mới. Những hậu quả lâu dài của thuốc tùy thuộc vào loại thuốc sử dụng và những cách điều trị khác mà bạn có thể đang thực hiện, chẳng hạn như hóa trị.

Tổn thương nội tạng vĩnh viễn: Một số loại thuốc có thể gây tổn thương vĩnh viễn các cơ quan nội tạng. Nếu phát hiện ra tổn thương trong khi điều trị, thường thuốc sẽ được ngưng lại, tùy thuộc vào loại cơ quan nào bị ảnh hưởng và mức độ trầm trọng của nó. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể vẫn còn tồn tại. Tổn thương ở một số cơ quan và hệ thống, như hệ sinh dục, có thể không thể hiện ra ngoài cho đến khi kết thúc hóa trị.

Chậm phát triển ở trẻ em: Khi trẻ nhỏ phải hóa trị ung thư, thuốc có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng học hỏi của trẻ. Một số yếu tố có thể làm giảm những tác dụng phụ lâu dài của thuốc bao gồm: tuổi của trẻ, loại thuốc được cho, liều và thời gian điều trị, hóa trị có thực hiện cùng lúc với những phương pháp điều trị khác hay không (chẳng hạn như xạ trị).

Tổn thương thần kinh: Những thay đổi của hệ thần kinh có thể xuất hiện nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi điều trị. Những dấu hiệu tổn thương thần kinh có thể bao gồm nghe kém hoặc ù tai, thay đổi cảm giác ở bàn tay và bàn chân, thay đổi tính tình, buồn ngủ, giảm trí nhớ, thời gian tập trung ngắn, và tai biến.

Tiểu máu: là tác dụng phụ của cyclophosphamide và ifosfamide có thể kéo dài một thời gian hoặc thậm chí nặng hơn sau khi ngưng điều trị. Tuy nhiên có cách điều trị cho vấn đề này.

Ung thư khác: xuất hiện ung thư thứ phát là mối lo ngại lớn cho những bệnh nhân ung thư còn sống. Một số loại thuốc hóa trị có thể làm gia tăng nguy cơ bị những loại ung thư khác sau này. Nguy cơ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi của bệnh nhân và bệnh nhân có được xạ trị không. Những loại ung thư thứ phát thường gặp là ung thư bạch cầu, lymphoma, và một số khối u đặc khác.

Do những tác dụng phụ lâu dài có thể liên quan đến một vài loại thuốc hóa trị nào đó, tốt nhất là bạn nên giữ lại danh sách tất cả các loại thuốc điều trị ung thư đã sử dụng, cùng với thời gian và liều lượng của chúng. Bạn sẽ cần phải đưa bản danh sách này cho các bác sĩ xem trong tương lai. Có thể bệnh viện còn giữ những bản danh sách như thế này nhưng khoảng thời gian lưu trữ hồ sơ của họ là có giới hạn và hồ sơ có thể bị hủy sau một khoảng thời gian nhất định.

Hãy chắc chắn rằng bạn đã lưu giữ những thông tin sau trong quá trình điều trị:

Bản copy kết quả bệnh học của bạn qua sinh thiết và phẫu thuật

Nếu bạn đã được phẫu thuật, hãy giữ lại bản tường trình phẫu thuật của mình

Nếu bạn được nhập viện, hãy lưu giữ lại bản copy giấy tờ xuất viện mà các bác sĩ phải trao cho bạn trước khi cho bạn xuất viện.

Bản danh sách các loại thuốc mà bạn đã dùng, liều lượng và khoảng thời gian bạn đã sử dụng chúng.

Nếu như bạn được xạ trị, hãy lưu giữ lại bản tóm tắt của quá trình này.

Cuối cùng, tái khám thường xuyên sau khi kết thúc điều trị chiếm vai trò cơ bản trong quá trình chăm sóc của tất cả những bệnh nhân ung thư còn sống. Khi bạn gần kết thúc quá trình hóa trị, hãy trao đổi với bác sĩ về lịch tái khám sau đó, và những xét nghiệm cần thực hiện trong những khoảng thời gian nghỉ đó. Bạn cũng nên trao đổi với bác sĩ về những triệu chứng mà bạn nên chú ý và nếu bị những triệu chứng trên thì bạn nên liên hệ với những bác sĩ chuyên khoa nào.

Theo http://www.yhoc-net.com/

Một phản hồi

  1. Loét miệng hoặc họng

    Một số thuốc hóa trị gây loét miệng hoặc họng. Thuốc tác dụng lên những tế bào phân chia nhanh chóng phủ ở những khu vực này làm chúng không thể thay thế đủ các tế bào bình thường bị mất đi.

    Viêm miệng chỉ tình trạng viêm và loét bên trong miệng có thể do hóa trị. Những thay đổi tương tự xuất hiện ở họng được gọi là viêm họng và ở thực quản (ống nối từ họng xuống đến dạ dày) được gọi là viêm thực quản. Viêm niêm mạc chỉ tình trạng viêm của lớp niêm mạc lát toàn bộ ống tiêu hóa từ miệng xuống đển trực tràng và âm đạo.

    Dấu hiệu đầu tiên của loét miệng xảy ra khi bề mặt miệng trở nên tái và khô. Sau đó, miệng, nướu răng và họng có thể cảm thấy đau rồi sau đó là đỏ và viêm. Lưỡi như được bọc lại và sưng lên dẫn đến khó khăn trong các động tác nuốt, ăn hay nói chuyện. Viêm miệng, viêm họng và viêm thực quản có thể dẫn đến chảy máu, loét và nhiễm trùng.

    Loét ở miệng, họng và thực quản thường chỉ là nhất thời. Chúng thường xuất hiện từ 5 đến 14 ngày sau khi hóa trị. Viêm miệng thường tự hồi phục sau 2 đến 3 tuần và lành hoàn toàn khi kết thúc hóa trị.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: