Điều trị Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

Cập nhật điều trị Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển.

Tại Buổi hội thảo Ung thư Châu Á 2010 diễn ra tại Bali (Indonesia), rất nhiều bài báo cáo, công trình nghiên cứu và những tiến bộ y khoa trong điều trị các loại Ung thư đã được các bác sĩ, nhà nghiên cứu trình bày, cập nhật. BS.Huỳnh Thanh Hoà Trưởng khoa Ung bướu BV Hoàn Mỹ Sài Gòn đã tham dự buổi hội thảo và ghi nhận những thông tin bổ ích này. Bài viết sau đây xin giới thiệu một số thông tin cập nhật mới nhất về điều trị Ung thư phổi được bác sĩ ghi nhận lại từ buổi Hội thảo.

I. ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự chọn lựa điều trị: tuổi, khả năng hoạt động, những trị liệu trước đó, các bệnh đi kèm…và đặc biệt là các chỉ số về sinh học phân tử như là sự đột biến của thụ thể EGF.

1. Bệnh nhân trẻ tuổi, khả năng hoạt động tốt: phối hợp các chất độc tế bào và liệu pháp nhắm trúng đích

1.1. Chất độc tế bào

– Đa hóa trị giúp kéo dài thời gian sống còn toàn bộ một cách rõ rệt hơn là đơn hóa trị hoặc điều trị nâng đỡ

– Các phối hợp có 3 thuốc có thể gia tăng thời gian bệnh không tiến triển so với phối hợp 2 thuốc, tuy nhiên không làm tăng thời gian sống còn toàn bộ mà lại làm tăng đáng kể các độc tính do hóa trị.

– Phối hợp 2 thuốc trong đó có cisplatin hiệu quả hơn so với các phối hợp có carboplatin hay các phối hợp không có dẫn xuất platinum.

– Thời gian hóa trị liệu cho phép là 4 chu kỳ; nếu kéo dài hơn có thể gia tăng thời gian sống bệnh không tiến triển nhưng không gia tăng thời gian sống còn toàn bộ.

1.2. Các tác nhân nhắm trúng đích

– Erlotinib và gefitinib: là các chất có phân tử nhỏ, ức chế men epidermal growth factor receptor (EGFR- thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu mô) tyrosine kinase. Đơn trị liệu với các tác nhân này có hiệu quả hơn các phối hợp hóa trị trên những bệnh nhân có đột biến gen EGFR. Tuy nhiên phối hợp hóa trị có dẫn xuất platinum với những chất này lại không gia tăng hiệu quả điều trị.

– Bevacizumab là kháng thể đơn dòng gắn lên VEGF (vascular endothelial growth factor – yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu). Phối hợp tác nhân này với những phác đồ 2 thuốc có chứa platinum giúp gia tăng thời gian sống còn toàn bộ so với hóa trị độc tế bào đơn thuần. Không được dùng bevacizumab trong các trường hợp: có ho ra máu, có di căn nảo, đang dùng thuốc kháng đông.

– Cetuximab là kháng thể đơn dòng gắn lên thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR). Trên những bệnh nhân mà tế bào ung thư có biểu hiện EGFR qua nhuộm hóa mô miễn dịch thì khi phối hợp cetuximab với hóa trị giúp tăng thời gian sống còn toàn bộ so với hóa trị đơn thuần. Tuy nhiên phối hợp này không làm tăng thời gian sống bệnh không tiến triển.

2. Bệnh nhân lớn tuổi: đơn hóa trị với docetaxel hoặc vinorelbine có thể giúp kéo dài thời gian sống còn so với điều trị nâng đỡ mà độc tính ở mức tối thiểu. Erlotinib hoặc gefitinib có thể chỉ định trong các trường hợp tế bào ung thư có đột biến gen EGFR va 2 bệnh nhân không muốn điều trị hóa trị.

3. Bệnh nhân có khả năng hoạt động kém: ECOG ≥2 hoặc Karnofsky Performance Status (KPS)

– PS = 3 hoặc 4: thường điều trị nâng đỡ.

– Đơn hóa trị hoặc đa hóa trị có thểgiúp tăng thời gian sống còn mà không làm ảnh hưởng chất lượng cuộc sống trong một số trường hợp.

– Có thể chỉ định erlotinib hoặc gefitinib trong các trường hợp có đột biến gen EGFR.

II. ĐIỀU TRỊ BƯỚC 2

Trong một số trường hợp chọn lọc, điều trị bước 2 giúp gia tăng thời gian sống còn và cải thiện chất lượng sống sau khi điều trị với các chất độc tế bào thất bại. Các chọn lựa bao gồm: phối hợp các chất độc tế bào, các chất ức chế men EGFR tyrosine kinase, xạ trị nếu như bệnh khu trú trong một vùng.

1. Các chất độc tế bào:

– Docetaxel: làm tăng thời gian sống còn so với điều trị nâng đỡ. Liệu trình hàng tuần có ít độc tính hơn

– Pemetrexed: được chỉ định trong loại ung thư không phải tế bào vẩy, hiệu quả tương đương nhưng độc tính ít hơn docetaxel

– Đa hóa trị không giúp tăng thời gian sống còn so với đơn hóa trị.

2. Các chất ức chế EGFR-TK:

– Erlotinib gia tăng rõ rệt thời gian sống còn so với điều trị nâng đỡ và được cho là tương đương với hóa

– Gefinitib tuy không làm gia tăng rõ rệt thời gian sống còn so với điều trị nâng đỡ, nhưng các nghiên cứu cho thấy hiệu quả của nó tương đương với erlotinib và hóa trị bước 2.

III. ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ

1. Xạ trị cứu vớt: giúp làm giảm các triệu chứng do khối u phát triển trong lồng ngực hoặc di căn nảo,
2. Di căn xương: rất thường gặp trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn 4 và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sống do gây đau và gảy xương bệnh lý. Liệu pháp với nhóm biphosphonate được chỉ định trong các trường hợp này. Trong các nghiên cứu pha III cho thấy zoledronic acid làm giảm đáng kể về số lượng những sự kiện liên quan đến xương như gảy xương bệnh lý, chèn ép tủy,chỉ định xạ trị, tăng can-xi máu./.

BS. HUỲNH THANH HOÀ tại Hội thảo Ung thư Châu Á 2010 diễn ra tại Bali Indonesia.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: